ĐOÀN VŨ DÂNG HOA & PHỤNG VỤ

                                                                                                                                                                                                                              

                                                                                                                                   Lâm Tuyết Hoa

I - PHỤNG VỤ B̀NH DÂN CA

 

Cha Alexandre de Rhodes (1591-1660), mà chúng ta vẫn quen gọi là Cha Đắc Lộ, là một Linh Mục thừa sai, đến Việt Nam để truyền đạo vào thế kỷ 17. Ông và 2 giáo sĩ khác, Gaspar Amiral và Antoine Barbosa, đă có công đầu trong việc sáng chế ra chữ quốc ngữ mà chúng ta dùng ngày nay. Khi vừa đến Đà Nẵng năm 1624, Cha Đắc Lộ đă ra sức học tiếng Việt Nam để công việc truyền giáo của ngài được dễ dàng. Trong cuốn hồi kư Divers Voyages et Missions en la Chine et autres royaumes de l 'Orient (Du kư và truyền giáo ở Trung Hoa và các vương quốc Phương Đông khác) xuất bản năm 1653, Cha Đắc Lộ khi nghe người Việt Nam nói chuyện, đă viết: “nghe người bản xứ nói, nhất là đàn bà, như nghe chim hót ”. Quả đúng như vậy: sở dĩ tiếng Việt phát âm giống như chim hót là do thanh điệu mà ra. V́ đặc tính ấy, nên tiếng Việt có nhiều cung điệu khác nhau, từ Bắc, tới Trung và Nam; nhiều khi quá khác nhau đến nỗi người miền nọ khó hiểu người miền kia. Chính v́ thế nghe người ta đọc kinh, nhất là các giọng ngắm, chúng ta có thể biết ngay là người của vùng nào. Ngay trong một miền, các giọng đọc và giọng ngâm cũng khác nhau, như các Giáo Phận Bùi Chu, Phát Diệm, Thái B́nh, Hà Nội, tuy cùng thuộc các Cha Ḍng Đaminh coi sóc trong thời kỳ truyền giáo; nhưng các cung điệu cũng không miền nào giống miền nào.

Ví dụ cung điệu của Giáo Phận Bùi Chu: Theo một bài khảo luận của Hải Linh, Vũ Hân và Nguyễn Thanh B́nh, th́ giáo phận này có 2 loại cung điệu: cung độc xướng (do một người) và cung hợp xướng (do nhiều người). Cung độc xướng như cung ngắm pḥng, cung đọc sách, cung đọc đoạn, cung ngắm đứng... Cung hợp xướng như cung đọc kinh lần hạt, cung đọc các kinh cầu, cung ngắm lễ, cung ngắm Rosa, cung ngắm bảy sự thương khó Đức Bà, cung ngắm Đàng Thánh Giá, cung ngắm Dấu Đanh, cung nguyện giỗ, cung dâng hạt, cung dâng hoa...

Đặc biệt nhất là cung Dâng Hoa lại được các ông thầy, bà quản tại các giáo xứ biến chế măi ra, từ cổ điệu đến tân điệu; có khi pha lẫn những tân điệu với cổ điệu để cho thích hợp với người già người trẻ. Ngày xưa tại các giáo xứ ở miền Bắc, Mùa Phụng Vụ nào cũng vui cả. Mùa nào cũng có rước. Mùa Giáng Sinh đón Chúa ra đời th́ vui đă đành, Mùa Chay là mùa thương khó cũng vẫn vui như thường v́ có ngắm đứng, ngắm nhân tài, chen vai chui vào hang đá trong “lâm bô” để hôn chân Chúa ướp mùi hoa soan, và bốc “nổ” (thóc rang, nổ x̣e như cánh hoa trắng), để rồi rước mừng Chúa sống lại.

Mùa Hoa vào Tháng 5 th́ đi hái hoa rước Đức Mẹ, và nhất là xem dâng hoa. Tuần nào cũng có dâng hoa, có khi dâng hoa tới hai tối trong một tuần . Có khi một Giáo Xứ có tới 2 hay 3 Đội Hoa tranh tài với nhau. Lúc đầu, đội Dâng Hoa chỉ gồm các em gái nhỏ, về sau người ta thành lập các đội dâng hoa gồm các chị lớn tuổi đă có gia đ́nh, thậm chí sau này có những đội hoa gồm các em trai hoặc gồm các anh thanh niên lớn tuổi. Các giáo xứ tổ chức các cuộc thi dâng hoa có giải thưởng để khuyến khích việc sùng kính Đức Mẹ.

Phong trào dâng hoa xâm nhập cả vào trong Chủng Viện, thay v́ “mọn mạy phàm hèn” để dành cho con gái ngâm, th́ các cha các thầy đổi thành “ḥe quế phàm hèn”. Tuy không hiểu ḥe quế phàm hèn là cái ǵ, các chú Latinh trong Chủng Viện cũng hứng khởi khi được cầm hoa dâng tiến trước Ṭa Đức Mẹ. Hồi xưa, một buổi dâng hoa thường kéo dài khá lâu, v́ bài dâng hoa vốn dĩ đă dài,mà khi ngâm người ta lại phải ngân nga í ĩ ́ i . . . Chẳng hạn bài dâng hoa của Giáo Phận Bùi Chu bắt đầu bằng Lời Than Kinh Cầu (Lạy ơn Đức Mẹ Chúa Dêu...) khá dài, sau đó là nhiều đoạn với các cung điệu khác nhau, gồm 110 câu. Toàn bài bố cục như sau :

-       Lời than kinh cầu (các em chuẩn bị trong phần này)

-       Mọn mạy phàm hèn (4 câu khởi đầu), (các em bắt dầu diễn múa)

-       Ngũ Bái (20 câu)

-       Bồ liễu trần t́nh (4 câu)

-       Đền vàng quí trước dâng hoa (12 câu)

-       5 sắc hoa (hoa đỏ í i hồng hồng . . . 20 câu)

-       7 hoa cổ điển (16 câu diễn tả 7 hoa gồm hoa Qú, Sen, Lê, Cúc, Mai, Đơn và Lan)

-       Ư niệm về 7 hoa và 5 sắc dẫn chứng (10 câu)

-       Lời nguyện Thảo Đóa Linh Pha (8 câu)

-       Tấc Thành (lời nguyện tạ từ gồm 16 câu)

          Về sau, các buổi tiến hoa thường diễn ra sau một cuộc rước và trước Thánh Lễ, nên các ông bà quản chỉ chọn một số đoạn nói trên mà thôi; mỗi đoạn lại được các nhạc sĩ địa phương chấm cung lại cho hợp thời, thêm vào các bài hát về Đức Mẹ.

 

II - THÀNH LẬP ĐOÀN VŨ DÂNG HOA CỘNG ĐOÀN ORANGE

 

Trong một phiên họp của Hội Đồng Mục Vụ hồi Tháng Ba năm 1994, Cha Quản Nhiệm Vũ Đ́nh Trác nêu vấn đề thành lập Ban Vũ Dâng Hoa để việc sùng kính Đức Mẹ vào mỗi Tháng Năm được khởi sắc như truyền thống sùng kính Đức Mẹ của Giáo Hội Việt Nam từ trước đến nay.

Ông Đỗ Đức Thành được đề cử giữ Ban Vũ Dâng Hoa với sự cộng tác của Ông Bà Thái Vĩnh An đang phụ trách Ban Vũ Phụng Vụ. Sau này Ban Vũ Phụng Vụ và Ban Vũ Dâng Hoa được tách riêng. Ban Vũ Dâng Hoa được ủy thác cho Ông Đỗ Đức Thành và Bà Bùi Thị Măo cùng với sự cộng tác của các bà như Bà Vũ Thị Mến, Bà Trần Thị Kim Chi và một số chị khác.

Muôn sự khởi đầu nan, trong năm đầu tiên thật là vất vả, vừa phải may áo, sắm hoa, kiếm bài, tập múa tập hát, nhất là phải hát life nữa. Một ban danh ca gồm các anh chị rất hăng say đi tập hát dưới quyền điều khiển của Ca nhạc sĩ Vũ Trọng Thanh. Ban hát này sau trở thành Ca Đoàn Lavang “rất nổi tiếng” với những giọng oanh vàng và vịt cồ vượt cả thời gian lẫn không gian. Lúc đầu, Đoàn phải thu thập những bài văn hoa nửa tân nửa cổ đă từng dùng trong các Hội Dâng Hoa ở Saigon trước năm 1975. Điệu múa vẫn là chậm và nhẹ nhàng khoan thai. Mỗi em bưng một b́nh hoa (giả) với đủ mầu sắc, xanh đỏ trắng tím vàng. Đội tiến hoa gồm 21 em. Bộ áo của các em là do các chị thức đêm thức hôm để may cho kịp ngày tiến hoa: kiểu áo đầm dài trắng của các Thiên Thần, thắt lưng xanh, đầu đội khăn voan trắng với ṿng hoa hợp với mầu hoa của mỗi em.

 

III - GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN

                                                                                                                                                                                      

Sau năm thứ 2, Hội Đồng Mục Vụ xin phép Cha Quản Nhiệm cho lạc quyên để mua một tượng Đức Mẹ từ Nhà Ḍng Đồng Công ở Riverside và đóng một kiệu Đức Mẹ cho thật đẹp để cung nghinh trong Tháng Hoa, cũng như làm việc đền tạ luân phiên tại các gia đ́nh. Cuộc lạc quyên được loan báo chỉ trong 2 tuần lễ, Cộng Đoàn đă có đủ tài chánh để mua tượng và đóng kiệu. Lư do là v́ người Công Giáo Việt Nam vẫn có truyền thống yêu mến Đức Mẹ, và nhiều giáo dân trong Cộng Đoàn cũng rất có ḷng. Lúc một số đại diện lên tận Ḍng Đồng Công Riverside để xem tượng th́ Nhà Ḍng chỉ c̣n một tượng nhỏ, chúng tôi đă xin Nhà Ḍng order ngay một bức tượng đúng với kiểu đă được chiêm ngưỡng nhưng lớn hơn, đó là bức Tượng Đức Mẹ Fatima đội triều thiên cao 4 feet bằng gỗ sồi do Ḍng Đồng Công nhập cảng từ bên Pháp với giá trên 4 ngàn đôla.

Lúc đầu Ông Huỳnh Ngọc Sâm nhận trách nhiệm sửa lại kiệu Đức Mẹ cũ do Cộng đoàn Tustin tặng với 4 người khiêng. Mấy năm sau, kiến trúc sư Phạm Ngọc Vinh vẽ một kiệu khác với 8 người khiêng, nhẹ hơn, có nhiều chỗ cắm hoa hơn, và trao cho Ông Lê Văn Rạng đóng với sự cộng tác của các Ông Đặng Văn Liên và Ông Mai Đ́nh Ḥe. Ông Lê Văn Rạng bảo quản kiệu này được 3 năm cho đến ngày ông qua đời.

Thế là từ đây, mỗi tháng Hoa về với 2 cuộc rước, Đón Hoa và Giă Hoa, ḷng yêu mến Đức Mẹ trong Cộng Đoàn càng thêm khởi sắc. Hội Các Bà Mẹ Công Giáo và Hội Legio Mariae thay nhau nhận trách nhiệm đi mua hoa, kết hoa trên kiệu Đức Mẹ cũng như cắm mấy chục b́nh hoa tươi cho Đoàn Vũ Dâng Hoa. Việc cắm hoa cũng cần phải có nghệ thuật, nên thường do những chị đă được học hỏi về cách cắm hoa, kinh nghiệm và khéo tay thực hiện. Hội Các Bà Mẹ Công Giáo và đạo binh Legio Mariae thay phiên nhau cắt cử những “kiều nữ ” khiêng kiệu Đức Mẹ.

Như vậy từ đó đến nay Đoàn Vũ Dâng Hoa chỉ tiến bằng hoa tươi, không phải mỗi em một b́nh mà là 2 b́nh. Điệu vũ cũng như các bài hát đều mới mẻ và tân thời hơn do cô Đỗ Thị Thanh Thủy đứng tập trong nhiều năm.

Đến năm 2000,các chị lại quyết định may một bộ áo mới cho các em, đó là áo dài Hoàng Hậu với khăn đống giống như y phục của Tượng Đức Mẹ Lavang thánh du. V́ quyết định may lấy, nên các chị lại thức đêm thức hôm để thực hiện cho bằng được 20 bộ quần áo và 20 khăn đống. Kết quả rất khả quan. Mọi người đều trầm trồ khen ngợi. Ai nấy đều hài ḷng với những công việc ḿnh làm v́ yêu mến Đức Mẹ.

Năm 2003, đoàn Vũ Dâng Hoa Cộng Đoàn Orange do chị Laurin Linh Huỳnh tập dượt từ đó cho tới nay; cùng với sự chăm sóc đoàn của bà Trần Thị Kim Chi (năm 2003), bà Hồ Thị Lệ T́nh (năm 2004), bà Bùi Thị Măo (năm 2005) và một số bà, chị khác nữa. (8-05)


 

 

 

Tham dự cuộc rước Tháng Hoa – Kính Đức Mẹ (tháng 5,2004)  & Đoàn Vũ Phụng Vụ -Lễ Bổn Mạng Cộng đoàn, tháng 6,2004

                                                                                                                                                                

CLICK xem h́nh ảnh sinhhoạtcđ