Kinh các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Kính lạy các Thánh Tử Đạo Việt Nam/ xưa đă biết dùng ơn Chúa mà lướt thắng mọi khó khăn khổ cực/ để gieo rắc hạt giống Phúc Âm/ và xây dựng Hội Thánh Chúa trên đất nước Việt Nam. Các  Thánh đă can đảm tuyên xưng Đức Tin đến hy sinh mạng sống/ v́ ḷng yêu mến Chúa và phần rỗi các linh hồn/ nên đáng được hưởng hạnh phúc trên trời.

Chúng con xin hiệp ư cùng các Thánh mà tạ ơn Thiên Chúa và Mẹ Maria/ Nữ Vương các Thánh Tử Đạo/ đă ban cho các Thánh được hồng phúc như vậy. Chúng con hoan hỉ ca tụng các Thánh là những hoa tươi đầu mùa cao quí của Hội Thánh Việt Nam.

        Xin các Thánh cầu bầu cho chúng con/ là con cháu biết noi gương mà sống đạo Phúc Âm/ thi hành Bác Ái/ trung thành với Hội Thánh và yêu mến Quê Hương.  Và khi chúng con gặp khó khăn nguy hiểm/ xin các Thánh giúp đỡ ủi an/ để chúng con đủ sức vâng theo ư Chúa/ cộng tác vào mầu nhiệm Thập Giá cứu độ của Chúa Giêsu/ tiếp tục con đường các Thánh đă đi hầu đạt tới hạnh phúc muôn đời.  Amen.

Thánh cốt của Năm vị Thánh Tử Đạo Việt Nam

Khung kính màu (Stained glass window) biểu trưng Chư Thánh Tử Đạo Việt Nam, trước đây đă được đặt ở vị trí cạnh Nhà Nguyện Thánh Thể; nay phía bên tay phải khung kính màu ấy cũng đă được gắn một Ḥm Thánh Cốt  của Năm Vị Thánh Tử Đạo Việt Nam mà Cộng Đoàn Chúa Giêsu Thánh Thể có được (từ trái qua phải, từ trên xuống), gồm:

1. Giuse Phạm Trọng Tả         +        2. Luca Phạm Trọng Th́n

3. Anê Lê Thị Thành     (hộp chính giữa)

4. Đaminh Phạm Trọng Khảm        +    5. Đaminh Vũ Đ́nh Tước


SƠ LƯỢC VỂ LỊCH SỬ TỬ ĐẠO TẠI VIỆT NAM                  

(By Thanh Do & Fr. Tuan Nguyen)

Việt Nam có 6 tôn giáo chính: Khổng giáo, Lăo giáo, Phật giáo , Kitô giáo, Cao Đài và Đạo thờ ông bà.

Khoảng 80% người Việt theo đạo thờ ông bà. Đạo này phát sinh từ Khổng giáo mà ra, dậy rằng con người ta khi chết th́ chỉ có thể xác bị hủy diệt c̣n linh hồn vẫn ở lại với gia đ́nh và con cháu. Do đó hàng năm con cháu vẫn phải thờ kính tổ tiên.

Trước khi Khổng giáo từ Trung Hoa được truyền vào Việt Nam, th́ đạo Phật đă được nhiều người theo từ thế kỷ thứ 2.  Trong thời trung cổ, đạo Phật đă rất thịnh hành, các Vua Quan đều là Phật tử cả. Khi Khổng Giáo xuất hiện th́ người dân theo cả hai đạo, nên họ lẫn lộn về các h́nh thức thờ cúng. Đó là lư do dân chúng trong làng nhà nào cũng có bàn thờ tổ tiên (gọi chung là đạo thờ ông bà) trong khi làng lại vẫn có một ngôi Chùa chung để thờ Phật. Các vị sư săi sống trong Chùa cũng có bàn thờ tổ tiên.

Thiên Chúa giáo được truyền vào Việt Nam tương đối trễ so với các đạo khác. Các vị truyền giáo vào Việt Nam từ thế kỷ thứ 14, bắt đầu với I-nê-khu (I-nha-xiô) vào năm 1533. Ông là một thầy ḍng người Âu Châu, ông ghé (có thể bị lạc) vào Việt Nam trên đường đến Trung Hoa. Thực ra măi đến thế kỷ thứ 16, các nhà truyền giáo từ Pháp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha mới thực sự giảng đạo cho người Việt Nam.

V́ có sự lẫn lộn giữa Đạo thờ cúng ông bà với Phật giáo, nên các thừa sai Công Giáo mới cấm các tín hữu Việt Nam không được thờ cúng tổ tiên. Các vua quan theo Khổng giáo sợ rằng Công Giáo sẽ hủy họai truyền thống tổ tiên nên ra lệnh cấm truyền đạo Kitô Giáo vào năm 1698. Những năm sau đó, nhất là trong những năm 1712, 1723 và 1750, số người Công giáo tử v́ đạo đă lên tới 100 ngàn người. Việc cấm cách được đ́nh chỉ một thời gian nhờ sự can thiệp của Giáo Hội đưa đến một thỏa ước được kư kết giữa Pháp và Nguyễn Ánh là người đang muốn Pháp giúp đánh lại quân Tây Sơn để lên ngôi vua năm 1802 lấy hiệu là Gia Long. Tiếc thay, các vua kế vị Gia Long sau này như Minh Mạng và Tự Đức đều ra sức cấm đạo. Vua Minh Mạng đă ra lệnh cấm các thừa sai ngọai quốc vào Việt Nam, c̣n các tín hữu Công giáo Việt Nam th́ phải đạp lên Thánh Giá để chứng minh là bỏ đạo và trung thành với Vua.  Những ai không chịu bỏ đạo th́ bị khắc chữ “tà đạo” trên trán, ng̣ai ra c̣n bị lưu đầy. Hiện nay, sau Công Đồng Vaticanô II (1962-1965) , người Công giáo Việt Nam đă được phép tôn kính tổ tiên và các anh hùng dân tộc với điều kiện phải hiểu rằng đây không phải là một tôn giáo hay v́ mê tín dị đoan, mà đây chỉ là h́nh thức kính nhớ và vinh danh ông bà tổ tiên.

Trong thế kỷ 18 và 19, có từ khoảng 130 ngàn đến 300 ngàn người Công giáo bị giết v́ đạo Chúa. Trong 5 năm từ 1857 đến 1862. có khoảng 5 ngàn tín hữu bị giết v́ đạo, khoảng 215 giáo sĩ tu sĩ nam nữ cùng khỏang 40 ngàn tín hữu bị bắt và bị tù tội hay bị lưu đầy. Tiếc rằng hầu hết các tài liệu tử đạo đều bị thất lạc, chỉ c̣n một số trường hợp được ghi chép lại trong đó có 117 vị đă được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong lên bậc hiển thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988. Ít năm sau đó, Thánh Phú Yên cũng được Đức GH Gioan Phaolô II phong hiển thánh. Trong số 117 vị thánh nói trên, có 96 là người Việt Nam, 11 vị là người Tây Ban Nha thuộc Ḍng Đaminh và 10 vị là người Pháp thuộc Hội Truyền Giáo Ba-lê. Trong số 117 vị thánh ấy, có 8 giám mục, 50 linh mục, 1 chủng sinh và 58 giáo dân. Tổng cộng có 76 vị bị chém đầu, 21 vị bị thắt cổ, 9 vị bị tra tấn đến chết, 6 vị bị thiêu sống và 5 vị bị án lăng tŕ (cắt thân thể ra từng mảnh). Lịch tŕnh phong chân phước của các thánh trên như sau: 64 vị được phong chân phước năm 1900 do Đức GH Lêô XIII; 8 vị năm 1906 do ĐGH Piô X; 20 vị năm 1909 cũng do ĐGH Piô X; và 25 vị năm 1951 do ĐGH Piô XII.

Sau khi giáo xứ chúng ta có nhà thờ mới, chúng tôi trong cộng đồng Việt Nam ước ao có một nơi trong nhà thờ để tôn vinh các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Chúng tôi hiện có một số xương thánh, nhưng chỉ chọn ra 5 bộ để lưu kính trong hộp xương thánh được gắn trên tường gần Khung Kính Mầu Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, phía bên mặt cửa chính vào Nhà Nguyện Thánh Thể. V́ Thánh Anrê Dũng Lạc đứng đầu danh sách toàn thể các Thánh Tử Đạo Việt Nam nên h́nh ảnh của ngài được phác họa trên Khung Kính Mầu. Chúng tôi rất tiếc đă không sưu tầm được bộ xương của Thánh Dũng Lạc, nhưng tiểu sử của Thánh Dũng Lạc và 5 vị thánh có xương lưu kính trong hộp xương thánh được tóm lược như sau:

Thánh Anrê Dũng Lạc sanh năm 1795 trong một gia đ́nh ngọai đạo. Cha mẹ nghèo quá không có tiền cho đi học nên để cho một Thầy Giảng nhận làm con nuôi. Cậu Dũng được bố nuôi gởi vào Chủng Viện Vĩnh Trị và được rửa tội tại đấy. Cậu Dũng là một trong những học sinh đứng đầu lớp không phải v́ giỏi giang, nhưng v́ cố gắng và chăm chỉ. Cậu ao ước được làm linh mục để phục vụ Chúa và giáo hội, nhất là săn sóc những người bệnh tật nghèo khó. Tại trường, cậu được học tiếng la-tinh và tiếng Tầu. Sau khi học xong Chủng Viện, thầy Dũng đi dậy giáo lư 10 năm để thử thách, và sau đó thầy được chịu chức linh mục vào ngày 15 tháng 3 năm 1823 lúc mới 28 tuổi. Cha Dũng đi coi sóc nhiều giáo xứ trước khi bị bắt v́ đạo dưới triều Minh Mạng. V́ lệnh cấm đạo quá gắt gao nên Cha Dũng đổi tên là Lạc và vẫn lén lút đi các xứ làm mục vụ, cho đến ngày 10 tháng 11 năm 1839 khi cha vừa làm lễ buổi sáng xong th́ bị quân lính vây bắt. Trong nhà tù, cha Dũng Lạc bị tra tấn rất dă man. Ngày 21 tháng 12 năm 1839, cha Dũng Lạc bị trảm quyết (chém đầu) tại Cầu Giấy gần Hà Nội. Cha Dũng Lạc được Đức GH Lêô XIII phong chân phước ngày 25 tháng 5 năm 1900 và được Đức GH Gioan Phaolô II phong hiển thánh ngày 19-6-1988.

  1. Thánh Đaminh Vũ Đ́nh Tước sanh năm 1775 tại Trung Lao, Nam Định. Hồi c̣n nhỏ, cậu Tước siêng năng cầu nguyện bất kể ngày hay đêm. Khi làm Linh Mục, cha Tước có tài giảng thuyết và làm việc hăng say; ngài cử hành thánh lễ rất sốt sắng. Đến năm 36 tuổi, cha Tước xin gia nhập Ḍng Đa Minh. V́ lệnh cấm đạo gắt gao của vua Minh Mạng nên cha Tước phải trốn tránh tại các nhà của giáo dân và thay đổi chỗ ở luôn. Ngày 2 tháng 4 năm 1839, cha Tước bị bắt khi đang cử hành thánh lễ buổi sáng. Một số giáo dân cố gắng giải cứu ngài, và đang khi ngài chạy trốn th́ quân lính dùng búa bổ vào đầu khiến ngài chết tại chỗ. Cha Tước được Đức GH Piô XII phong chân phước ngày 29-4-1951 và được Đức GH Gioan Phaolô II phong hiển thánh ngày 19-6-1988.
  1. Thánh Đaminh Phạm Trọng Khảm ( Án Khảm ) sinh năm 1780 trong một gia đ́nh đạo đức trong làng Quần Cống thuộc tỉnh Nam Định. Đến năm 18 tuổi, ông kết hôn với cô Agnès Phương . Ông bà sanh được 1 người con trai (cũng được phúc tử v́ đạo) và 3 người con gái. Ông thành công trên đường hoạn lộ. Sau khi đỗ đạt tại Kinh Đô, ông được cử làm quan Án Sát Tỉnh Nam Định. Ông nổi tiếng là thanh liêm; ông về hưu ở tuổi 60. Tại làng Quần Cống, ông được nổi danh nhờ ḷng đạo đức và bác ái đối với dân làng. Ông gia nhập Ḍng Ba Đaminh. Khi quân lính về bắt đạo tại làng Quần Cống th́ cụ Án Khảm đă gần 80 tuổi và lúc đó là thời kỳ bắt đạo rất gắt gao dưới thời Vua Tự Đức. Cụ ra sức khuyên nhủ dân làng giữ vững đức tin và bảo vệ các giáo sĩ. Cụ cùng với người em họ là ông Cai Tả và mấy hương chức trong làng bị bắt và bị chém đầu ngày 13-1-1859. Cụ được Đức GH Piô XII phong chân phước ngày 29-4-1951, và được Đức GH Gioan Phaolô II phong hiển thánh ngày 19-6-1988.
  1. Thánh Luca Phạm Trọng Th́n (Cai Th́n) sanh năm 1820, là con trai duy nhất của Thánh Án Khảm. Khi cha là Thánh Án Khảm bị bắt, ông Cai Th́n đang làm Chánh Tổng (Cai Tổng) Trà Lũ, Nam Định. Trong khi làm quan, mặc dầu đă có vợ, ông Cai Th́n cưới thêm người tiểu thiếp và cuộc sống không mấy nề nếp. V́ quân quan nhiều lần về Quần Cống lùng bắt giáo sĩ nên bà Án Khảm sai ông Cai Th́n đem tiền lên tỉnh đút lót các quan để xin các quan nới tay cho dân làng Quần Cống. Ông Cai Th́n lên Nam Định th́ quên ngay việc đi đút lót các quan, ông dùng tiền ấy vào các việc ăn chơi cho đến khi nghe tin cha ông và các hương chức bị bắt giam th́ đă quá trễ không chạy chọt được nữa. Ông Cai Th́n hối hận vô cùng, ông về nhận tội với mẹ, gia đ́nh và làng xă; ông chia của cải cho bà vợ thứ, ly dị với bà này rồi lên tỉnh xin thú nhận ḿnh theo đạo Công giáo và xin được bị giam v́ đạo. Ông bị tù cùng với cha ông và cùng bị trảm quyết vào ngày 13-1-1859. Ông được vào danh sách phong chân phước và hiển thánh với cha ông.
  1. Thánh Giuse Phạm Trọng Tả (Cai Tả) sanh năm 1800, là em thúc bá với Thánh Án Khảm. Lúc bị bắt cùng với Thánh Án Khảm, ông là cựu Chánh Tổng (hưu). Ông cùng với Thánh Án Khảm và các hương chức luôn bảo vệ các giáo sĩ, người Việt cũng như thừa sai ngoại quốc. Ông cùng được phúc tử đạo, cùng trong danh sách phong chân phước và hiển thánh với thánh Án Khảm.
  1. Bà Thánh Inê (Anê) Lê Thị Thành (Bà Thánh Đê) sinh năm 1781 tại Thanh Hóa, Miền Trung Việt Nam. Bà lập gia đ́nh năm 17 tuổi, sanh được 2 người con trai và 4 người con gái. Bà rất can đảm trong việc che chở các giáo sĩ trong lúc các vị đi trốn quân của triều đ́nh. Một lần bà bị bắt quả tang đang cho một linh mục Việt Nam trốn trong nhà nên bị bắt và bị tống ngục. Bà bị bắt phải quá khóa (bỏ đạo ), nhưng bà nhất định giữ vững đức tin dù bị tra tấn rất dă man. Bà chết trong tù vào ngày 12-7-1841 lúc 60 tuổi. Bà được Đức GH Piô X phong chân phước ngày 2-5-1909 và được Đức GH Gioan Phaolô II phong hiển thánh ngày 19-6-1988.

Tóm lại, Việt Nam là một nước nhỏ thuộc vùng đông nam Á Châu, đă trải qua một ngàn năm đô hộ giặc Tầu và một trăm năm đô hộ giặc Tây. Trong chiến tranh Việt-Pháp, một hiệp định đ́nh chiến được kư tại Genève,Thụy Sĩ năm 1954 chia đôi nước Việt Nam thành 2 phần, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Miền Bắc đặt dưới sự cai trị của chế độ Cộng sản; miền Nam thuộc chính phủ Cộng Ḥa. Chỉ sau 2 năm từ ngày kư hiệp ước, chính quyền Cộng sản Miền Bắc đă xua quân quấy rối Miền Nam, và cuối cùng đă chiếm trọn cả nước vào ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Từ đó, chế độ sắt máu Cộng Sản đă đè nặng trên toàn cơi con dân Việt Nam, khiến cho gần 2 triệu người phải liều chết ra đi t́m tự do. Nhiều người đă làm mồi cho cá ngoài biển Đông và cho thú dữ trong rừng sâu.

Ngày nay đa số những người tị nạn Cộng sản đều được sống trên đất Mỹ, và Quận Orange là quê hương thứ hai của một tập thể người Việt di cư đông đảo nhất thế giới.

Hiện nay tại Việt Nam, mặc dù dân chúng được phép đi nhà thờ và dự các thánh lễ Chúa Nhật, Cộng Sản vẫn c̣n đàn áp tự do tôn giáo. Chúng không cho phép Giáo Hội thực thi quyền hạn tôn giáo của ḿnh; chúng cản trở những họat động của Giáo Hội v́ sợ Giáo Hội được tiếng tốt trong xă hội. Giáo Hội muốn làm ǵ cũng phải xin phép chính quyền (cơ chế xin-cho), ví dụ như khi các Giám Mục muốn sang Rôma triều yết Đức Giáo Hoàng, hoặc giáo dân muốn tập họp trong các ngày lễ lớn cũng phải xin phép v.v.

    Trải qua hàng bao nhiêu thế kỷ, Giáo Hội luôn luôn bị chèn ép bởi các chế độ thế quyền. Tuy nhiên, hiện nay mặc dù sống dưới chế độ hà khắc của Cộng sản, nhờ máu các anh hùng tử đạo Việt Nam đă gieo vào ḷng đất mẹ từ những thế kỷ trước nên số giáo dân mỗi năm mỗi tăng, và rất nhiều người trẻ vẫn nối tiếp nhau hăm hở dâng ḿnh phục vụ Chúa và Giáo Hội, cả trong nước lẫn ở hải ngọai.